Bối cảnh ở Việt Nam
Hiện nay, mức sống của người dân toàn thế giới nói chung đã được cải thiện đáng kể nhờ vào thành tựu phát triển kinh tế, công nghệ và sản xuất. Tuy nhiên, bất bình đẳng trong xã hội vẫn còn tồn tại thậm chí ngày càng gia tăng trong mười năm trở lại đây từ khi thực hiện chính sách ngày càng tự do hóa. Trong xu hướng tự do hóa đi đôi với bối cảnh toàn cầu hoá, ưu tiên hàng đầu là nhằm đáp ứng những đòi hỏi của việc gia nhập một thị trường rộng lớn và cạnh tranh, trong khi các chính sách xã hội ở nhiều nước vẫn chưa dành được sự quan tâm đúng mức.
Mục tiêu của Chính phủ các nước và đặc biệt của Chính phủ Việt Nam là xây dựng các quốc gia có khả năng cạnh tranh đồng thời đảm bảo sự gắn kết xã hội cần thiết, vì thực tế hiện nay cho thấy những chính sách ưu tiên cho kinh tế vẫn nhiều hơn cho xã hội.
Chính trong bối cảnh này cần phải tạo dựng cho mô hình hợp tác xã một chỗ đứng như một hình thức tồn tại song song với doanh nghiệp. Mặc dù nhiều tổ chức quốc tế đã ghi nhận hợp tác xã là một trong các loại hình thực hiện và ở Việt Nam cũng đã có những bước tiến trong luật hợp tác xã năm 1996, năm 2003 và nhiều văn bản đóng góp điều chỉnh trong nhiều lĩnh vực, nhưng một nhiệm vụ quan trọng đang đặt ra là xác định và xây dựng được một khung khổ pháp lý hiệu quả có sự phối hợp giữa các tác nhân chính, và tương lai của các hợp tác xã, với tư cách là nòng cốt cho kinh tế-xã hội của cả nước, sẽ phụ thuộc vào khung khổ pháp lý này.
Dù có xu hướng chững lại trong một số lĩnh vực, phong trào hợp tác xã tại Việt Nam vẫn là một mô hình tổ chức tạo động lực cho nền kinh tế và cho phép điều tiết các mối quan hệ giữa sở hữu vốn và xã hội cũng như các vấn đề liên quan khác thông qua việc góp phần làm giảm những bất cập, tồn tại.